Viêm loét đại tràng, Triệu chứng Nguyên nhân, Phương pháp điều trị

Viêm loét đại tràng là một bệnh nằm trong nhóm viêm đại tràng đang trở thành căn bệnh phổ biến tại nước ta. Người bị viêm loét đại tràng luôn phải chịu đựng với những cơn đau và các triệu chứng rối loạn tiêu hóa kéo dài, khiến cơ thể vô cùng mệt mỏi, mất ăn, mất ngủ. Nguy hiểm hơn, nếu không được chữa trị triệt để, viêm đại tràng có thể tiến triển thành ung thư. Cùng Fansipanvn.com tìm hiểu về nguyên nhân triệu chứng để giúp người bệnh có một phương pháp điều trị hiệu quả là điều cực kỳ quan trọng.

Viêm loét đại tràng – hiểu đúng bệnh, chữa đúng cách
Viêm loét đại tràng – hiểu đúng bệnh, chữa đúng cách

Bệnh viêm loét đại tràng là gì? Có nguy hiểm không?

Đại tràng là đoạn cuối của hệ thống tiêu hóa hay còn được gọi là ruột già, là nơi tích tụ các chất bẩn, vi khuẩn và các chất cặn bã của quá trình tiêu hóa thức ăn từ ruột non xuống đó sẽ được tạo thành phân đẩy xuống trực tràng và tống ra ngoài. Vì vậy, nguy cơ bị viêm đại tràng thường rất cao do các loại vi khuẩn, virus có hại gây ra.

Viêm loét đại tràng (tiếng Anh: ulcerative colitis) chỉ tình trạng lớp lót bên trong đại tràng bị viêm nhiễm và tổn thương, nếu nhẹ thì niêm mạc sưng đỏ, có các vết trợt, nặng thì xuất hiện các vết loét, có thể xuất huyết hay hình thành những ổ áp xe nhỏ.

Khi bị viêm loét đại tràng, người bệnh sẽ có cảm giác đau tức vùng bụng dưới, đại tiện bất thường, phân không thành khuôn, kèm theo đầy hơi, chướng bụng, sôi bụng, rối loạn phân, phân nhầy có lẫn máu. Do đó, bệnh đại tràng để lâu ngày sẽ dẫn đến những biến chứng như thiếu máu, thủng giãn đại tràng, nguy hiểm hơn là ung thư đại tràng. Nếu có phương pháp điều trị đúng thì sẽ giảm được tình trạng bệnh.

Theo nguồn số liệu thống kê do Bộ Y tế tổng hợp, tại nước ta hiện nay thì cứ 3 người lại có 1 trường hợp gặp vấn đề về đại tràng, mà chủ yếu là viêm loét. Ước tính, có khoảng 4 triệu người Việt mắc căn bệnh này. Mặc dù, viêm loét đại tràng được phát hiện chủ yếu là ở người cao tuổi, nhưng hiện nay bệnh có xu hướng ngày càng trẻ hóa với những người dưới 35 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu đến từ những thói quen và lối sống thiếu lành mạnh.

Các triệu chứng viêm loét đại tràng

Triệu chứng viêm loét đại tràng có thể khác nhau, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của chứng viêm và nơi mà nó xảy ra. Đối với những lý do này, các bác sĩ thường phân loại viêm loét đại tràng theo vị trí của nó.

Dưới đây là các dấu hiệu và triệu chứng có thể đi kèm viêm loét đại tràng, tùy thuộc vào phân loại của nó:

  • Viêm loét trực tràng. Trong hình thức này, viêm trực tràng giới hạn cho một số người, chảy máu trực tràng có thể là chỉ dấu của bệnh. Những người khác có thể bị đau trực tràng, cảm thấy sự khẩn thiết hay không có khả năng di chuyển ruột mặc dù các yêu cầu để làm như vậy (cảm giác buốt mót). Mẫu này của viêm loét đại tràng có xu hướng là nhẹ nhất.
  • Viêm trực tràng – đại tràng sigmoid. Hình thức này liên quan đến trực tràng và phần cuối cùng của đại tràng, được gọi là đại tràng sigmoid. Tiêu chảy máu, đau bụng, đau và cảm giác buốt mót là vấn đề thường gặp liên quan đến hình thức của bệnh.
  • Viêm đại tràng còn lại. Như tên cho thấy, tình trạng viêm kéo dài từ trực tràng lên phía bên trái qua và đi xuống đại tràng sigmoid. Các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm tiêu chảy ra máu, đau rút và đau bụng phía bên trái, và giảm cân ngoài ý muốn.
  • Viêm toàn bộ đại tràng. Ảnh hưởng đến toàn bộ đại tràng, là nguyên nhân tiêu chảy ra máu nghiêm trọng, đau bụng, mệt mỏi và giảm cân đáng kể.

Viêm đại tràng tối cấp. Hiếm, đe dọa mạng sống, viêm ruột ảnh hưởng đến toàn bộ đại tràng và gây ra đau nặng, tiêu chảy và đôi khi mất nước và sốc. Những người bị viêm đại tràng tối cấp có nguy cơ biến chứng nghiêm trọng, bao gồm đứt đại tràng và megacolon, xảy ra khi đại tràng trở nên phình to nghiêm trọng.

Các giai đoạn viêm loét đại tràng khác nhau, với các thời kỳ bệnh viêm đại tràng cấp tính thường xen kẽ với các thời kỳ thuyên giảm. Nhưng qua thời gian, mức độ nghiêm trọng của bệnh thường vẫn giữ nguyên. Hầu hết mọi người với vấn đề nhẹ nhàng hơn, chẳng hạn như viêm loét trực tràng, sẽ không tiếp tục phát triển nhiều dấu hiệu và triệu chứng nghiêm trọng.

Khám bác sĩ nếu gặp sự thay đổi liên tục trong thói quen đi tiêu hoặc nếu có bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng của viêm loét đại tràng, chẳng hạn như sau:

  • Đau bụng.
  • Máu trong phân.
  • Đang có những cơn tiêu chảy mà không đáp ứng với thuốc.
  • Sốt không giải thích được kéo dài hơn một hoặc hai ngày.

Mặc dù loét đại tràng thường không gây tử vong, nhưng đó là một căn bệnh nghiêm trọng, trong một số trường hợp, có thể gây ra các biến chứng đe dọa tính mạng.

Nguyên nhân viêm loét đại tràng

Người bệnh khổ sở vì những cơn đau dai dẳng do viêm loét đại tràng gây ra

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến viêm loét đại tràng, đến nay các nhà khoa học vẫn chưa biết chính xác nguyên nhân gây bệnh. Trong đó, các phản ứng viêm có thể bắt đầu từ hệ miễn dịch khi hệ miễn dịch cố gắng chống lại tác nhân gây bệnh. Dưới đây là một số nguyên nhân chủ yếu như sau.

– Viêm loét đại tràng cấp do ngộ độc hoặc dị ứng thức ăn.

– Di truyền: Bệnh có thể do yếu tố di truyền gây ra, khi gia đình có cha mẹ hoặc anh chị em ruột mắc phải bệnh này thì có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.

– Do môi trường và chế độ ăn uống: Do không giữ vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường, nên rất dễ ăn phải thực phẩm bị nhiễm vi sinh vật gây bệnh như:

  • Ký sinh trùng hay gặp nhất là lỵ amip, ngoài ra còn có giun đũa, giun tóc, giun kim.
  • Vi khuẩn: lỵ trực khuẩn (Shigella), vi khuẩn thương hàn (Salmonella), vi khuẩn tả (Vibrio cholerae), vi khuẩn E. coli, vi khuẩn lao.
  • Siêu vi thường gặp là Rotavirus, chủ yếu ở trẻ em.
  • Nấm, đặc biệt là nấm Candida.

– Viêm loét đại tràng có thể do tự miễn.

  • Ngoài ra, bệnh còn có nguyên nhân do căng thẳng, táo bón kéo dài, khó tiêu, dùng thuốc kháng sinh trong thời gian dài gây loạn khuẩn ruột …
  • Nhiễm khuẩn lao: Nhiễm khuẩn lao cũng là một trong những nguyên nhân gây viêm đại tràng. Người bệnh sẽ có những biểu hiện như tiêu chảy dài ngày, cơ thể mệt mỏi, đi phân nhày có lẫn máu, sức khỏe giảm sút, chán ăn, hay bị sốt nhẹ về chiều tối.
  • Do đại tràng bị thiếu máu cục bộ: Khi bị thiếu máu đại tràng có thể bị viêm vì những lý do như xơ vữa động mạch trong đại tràng, bị xoắn ruột, thoát vị bẹn hoặc bị huyết áp thấp.
  • Uống nhiều thuốc kháng sinh: Uống nhiều thuốc kháng sinh không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà khi đi vào đường ruột chúng sẽ tiêu diệt các vi khuẩn có ích, tạo điều kiện thuận lợi cho các loại vi khuẩn có hại nằm trong đường tiêu hóa phát triển mạnh và gây nên viêm loét đại tràng.

Những nguyên nhân chính có khả năng gây ra viêm loét đại tràng đó là:

1/ Do tác động của vi sinh vật: Khi các vi sinh vật gây hại xâm nhập vào đại tràng, chúng có thể làm tổn thương niêm mạc đại tràng gây ra viêm loét. Một số loại vi sinh vật gây hại cho đại tràng như là: Vi khuẩn lỵ Shigella, vi khuẩn thương hàn Salmonella, vi khuẩn E.coli, vi trùng amip, các loại giun sán…

2/ Do tình trạng thiếu máu cục bộ: Thông thường, đại tràng sẽ được nuôi bởi một số động mạch máu, khi một lý do nào đó gây tắc nghẽn các mạch máu này sẽ làm hoạt tử và viêm loét một vùng niêm mạc đại tràng.

3/ Do việc sử dụng kháng sinh lâu dài: Nếu chúng ta sử dụng kháng sinh để điều trị các bệnh lý khác trong thời gian dài, thì các thành phần của thuốc có thể phá vỡ hệ vi khuẩn bình thường trong đường ruột, làm rối loạn chức năng đại tràng, dẫn đến tình trạng viêm loét. Nguyên nhân này đặc biệt hay gặp với những bệnh nhân xạ trị ung thư bằng kháng sinh liều cao và kéo dài.

4/ Do thói quen ăn uống thiếu khoa học: Khi ăn uống không điều độ, ăn quá no, ăn không đúng bữa, sử dụng chất kích thích, rượu bia… sẽ khiến cho nhu động ruột và hoạt động co bóp bị biến đổi, làm giảm tiết chất nhầy trên thành đại tràng. Hệ vi sinh trong đường tiêu hóa bị rối loạn và gián tiếp gây tổn thương niêm mạc đại tràng.

5/ Do môi trường sống: Những người dân sống ở vùng thành thị có nguy cơ mắc phải bệnh lí này cao hơn ở những vùng khác, đặc biệt là tại các nước công nghiệp phát triển. Nguyên nhân gây bệnh có thể bắt nguồn từ chế độ ăn uống nhiều chất béo và tiêu thụ các sản phẩm tinh chế. Ngoài ra, vấn đề ô nhiễm thực phẩm, stress, làm việc nghỉ ngơi không điều độ cũng là những yếu tố nguy cơ khiến căn bệnh này hình thành.

6/ Do yếu tố di truyền: Viêm loét đại tràng không lây lan nhưng có khả năng di truyền. Tỷ lệ mắc bệnh này cao hơn khi trong gia đình có bố mẹ, anh chị em ruột bị viêm loét đại tràng.

Viêm loét đại tràng có nguy hiểm không?

Viêm loét đại tràng kéo dài sẽ chuyển thể sang giai đoạn mãn tính và có nguy cơ gây ra một số biến chứng nguy hiểm sau:

Phình đại tràng nhiễm độc

Phình đại tràng nhiễm độc là một biến chứng của viêm loét đại tràng mãn tính. Biến chứng này khiến cho đại tràng bị phình to ra, nhu động ruột bị tê liệt. Từ đó, chức năng tiêu hóa của đại tràng bị suy giảm nghiêm trọng, đại tràng dễ dàng bị loét và thủng nhiều lần, thậm chí là tử vong.

Biểu hiện của chứng phình giãn đại tràng nhiễm độc dễ gây nhầm lẫn với nhiều bệnh về đường tiêu hóa khác, nên người bệnh thường chủ quan.

Người bệnh có thể có các biểu hiện như:

  • Đau bụng dữ dội
  • Tiêu chảy kéo dài
  • Chướng bụng
  • Sốt cao, mất nước
  • Tình trạng nguy hiểm có thể khiến bệnh nhân bị sốc và hôn mê
  • Xuất huyết đại tràng ồ ạt

Những người bị viêm loét đại tràng khi đi đại thiện đôi khi có thể thấy máu lẫn trong phân, phân nhầy máu. Tình trang này kéo dài sẽ khiến người bệnh bị thiếu máu, cơ thể dần suy nhược. Tuy nhiên, nó mới là dấu hiệu đại tràng chảy máu ở thể nhẹ.

Bước vào giai đoạn viêm loét nặng, vùng loét lan rộng và ăn sâu xuống lớp cơ gây chảy máu nhiều, thậm chí là tình trạng máu chảy ồ ạt khiến bệnh nhân bị mất máu cấp vô cùng nguy hiểm. Nếu không được cứu chữa kịp thời, người bệnh sẽ phải đối mặt với nguy cơ tử vong cực kỳ cao.

Thủng đại tràng

Những vết loét lâu ngày trong niêm mạc đại tràng sẽ ăn sâu xuống tất cả các lớp cơ của đại tràng, làm cho thành đại tràng mỏng và xuất hiện những lỗ thủng. Đại tràng bị thủng gây ra cơn đau dữ dội giống như một vết dao đâm. Thủng đại tràng có thể gây ra những triệu chứng khác như là rối loạn ý thức, sốc, nhịp tim tăng nhanh và tăng nhịp thở.

Đại tràng bị thủng khiến cho vi khuẩn lan rộng dẫn đến tình trạng viêm phúc mạc. Biến chứng này cần được phẫu thuật khẩn cấp để khắc phục tình hình, nếu không được đưa tới bệnh viện kịp thời thì bệnh nhân có thể tử vong.

Ung thư đại tràng

Ung thư đại tràng được xem như là một biến chứng nguy hiểm nhất của viêm loét đại tràng mãn tính. Nguy cơ ung thư tích lũy theo thời gian và bắt đầu tăng đáng kể sau 8-10 năm bị viêm loét đại trực tràng. Khoảng 30% bệnh nhân bị viêm loét toàn bộ đại tràng kéo dài >20 năm có nguy cơ diễn tiến thành ung thư.

  • Tuy nhiên, nguy cơ bệnh nhân bị viêm loét đại tràng phát triển thành ung thư cũng liên quan đến vị trí và mức độ lan rộng của bệnh viêm loét đại tràng.
  • Số bệnh nhân bị viêm loét toàn bộ đại tràng đang hoạt động 10 năm hoặc lâu hơn, thì nguy cơ bị ung thư đại tràng gấp 10-20 lần so với dân số chung.
  • Bệnh nhân bị viêm loét đại tràng trái mãn tính, nguy cơ ung thư đại tràng tăng nhưng không cao như nhóm bệnh nhân bị viêm loét toàn bộ đại tràng mãn tính.

Trước đây ung thư đại tràng dễ xảy ra nếu như bệnh nhân mắc bệnh viêm loét đại tràng sớm. Việc thăm khám đại tràng định kì có thể được khuyến cáo khi người bệnh bị viêm loét đại tràng từ 8 năm trở lên. Trong lúc khám, bác sĩ sẽ sinh thiết mô để tìm thay đổi tiền ung thư (nghịch sản) của những tế bào lót bên trong đại tràng. Khi đã xác định có sự thay đổi tiền ung thư, thì việc cắt bỏ đại tràng có thể cần thiết để ngăn ngừa ung thư đại tràng.

Ung thư đại tràng

Biến chứng khác

Biến chứng của viêm loét đại tràng mãn tính có thể xảy ra ở những nơi khác trong cơ thể. Nó có thể là lý do hình thành hoặc làm trầm trọng thêm những bệnh nguy hiểm khác trong cơ thể.

  • Khoảng 10% bệnh nhân có thể bị viêm khớp do viêm loét đại tràng gây ra. Một số bệnh nhân có triệu chứng đau lưng do viêm khớp cùng – chậu. Hiếm hơn, người bệnh có thể bị đau, đỏ da, nốt cứng da.
  • Còn một số bệnh nhân khác lại có triệu chứng đau, đỏ mắt. Vì những biến chứng này có nguy cơ làm giảm thị lực. Đau mắt, đỏ mắt là những triệu chứng đòi hỏi người bệnh phải đến khám bác sĩ.
  • Bệnh của gan và ống mật cũng có thể kết hợp với viêm loét đại tràng. Chẳng hạn, một số rất hiếm bệnh nhân mắc chứng bệnh gọi là viêm xơ hoá đường mật, làm cho viêm và nhiễm trùng đường mật hay tái phát có thể gây ra sốt hồi qui, vàng da, xơ gan, và cần phải ghép gan.

Cách chẩn đoán viêm loét đại tràng

Chẩn đoán lâm sàng

Chẩn đoán viêm loét đại tràng được nghĩ tới khi người bệnh có triệu chứng đau bụng, chảy máu trực tràng và ỉa chảy. Sau khi nghi ngờ thì người bệnh sẽ tới các cơ sở y tế để thăm khám.

Trong công tác chẩn đoán, trước tiên bác sĩ sẽ đặt ra các câu hỏi xoay quanh triệu chứng của người bệnh để đưa ra đánh giá sơ bộ ban đầu. Chẳng hạn như:

  • Bệnh nhân bị đau ở vị trí nào?
  • Cơn đau xuất hiện vào thời điểm nào?
  • Đau nhiều hay đau ít?
  • Bạn có ăn uống bất thường gì không?
  • Các triệu chứng bất thường khác?
  • Tiền sử bệnh tật và việc sử dụng thuốc?
  • Trong gia đình có ai mắc bệnh liên quan tới đường tiêu hóa hay không?
  • vv…

Bác sĩ có thể sờ nắn hoặc gõ vào vùng bụng để xác định vị trí và mức độ đau của bệnh nhân. Khi dùng tay ấn vào vùng hố chậu, nếu đúng là người bệnh bị viêm đại tràng thì sẽ có tiếng óc ách, chướng hơi, ấn dọc khung đại tràng có cảm giác đau. Bác sĩ cũng có thể sờ thấy “thừng xích ma” giống như một ống chắc và ít di động.

Chẩn đoán cận lâm sàng

Để cho đưa ra được kết luận chẩn đoán chính xác. Người bệnh sẽ được yêu cầu thực hiện thêm một số phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng như là:

Xét nghiệm mẫu phân: Lấy mẫu phân đem phân tích để loại trừ nguyên nhân nhiễm trùng và ký sinh trùng, vì những bệnh này cũng có triệu chứng giống như viêm loét đại tràng.

Xét nghiệm máu cũng: Nếu bệnh nhân bị nghi viêm loét đại tràng, thì thông qua xét nghiệm máu sẽ cho thấy:

  • Dấu hiệu thiếu sắt, thiếu máu do mất máu mãn tính
  • Tăng tế bào bạch cầu
  • Rối loạn điện giải, nhất là hạ kali máu
  • VS tăng, CRP tăng
  • Giảm albumine máu
  • Tăng men gan
  • Kháng thể kháng bạch cầu bào tương quanh nhân tăng
  • Kháng thể Antiglycan antibody tăng

Nội soi đại tràng: Để khẳng định có viêm loét đại tràng cần phải nội soi đại tràng. Bác sĩ dùng một ống nhỏ có thể bẻ cong được, đưa vào trực tràng (soi đại tràng xích-ma và soi đại tràng). Kỹ thuật này cho phép bác sĩ quan sát trực tiếp bên trong lòng đại tràng giúp chẩn đoán bệnh và xác định mức độ lan rộng của tổn thương viêm loét đại tràng.

Sinh thiết: Thông qua nội soi, bác sĩ sẽ lấy một mẫu mô nhỏ ở thành dại tràng để đem đi sinh thiết giúp xác định mức độ nặng của tổn thương và tầm soát ung thư. Những bệnh nhân bị viêm loét đại tràng từ 8 năm trở nên thì cần sinh thiết định kỳ 1 -2 năm/ lần để đánh giá thường xuyên hơn và tiên lượng sớm nguy cơ ung thư.

Chụp X quang đại tràng: Đây là kỹ thuật bơm chất cản quang Barium  giúp quan sát hình ảnh khung đại tràng. Trong suốt thời chụp bằng baryt, một chất trắng được đưa vào trong trực tràng và đại tràng. Barium là một chất cản quang, làm cho hình ảnh đại tràng được rõ nét khi chụp. Tuy nhiên, kỹ thuật chụp X quang lạc hậu hơn so với nội soi đại tràng, nó cho kết quả hình ảnh kém chi tiết hơn nên  hiện nay người ta ít sửa dụng phương pháp chẩn đoán này .

Chụp cắt lớp vi tính: Đây là phương pháp chụp hình ảnh chi tiết của đại tràng trên máy quét CT. Kỹ thuật này có thể được áp dụng thay thế cho nội soi đại tràng, nó đặc biệt hiệu quả trong các trường hợp muốn xác định dấu hiệu ung thư đại tràng hoặc các bất thường khác trong lòng đại tràng chẳng hạn như polyp.

Các phương pháp điều trị viêm loét đại tràng hiện nay

Điều trị viêm loét đại tràng bằng Tây y

Một số loại thuốc thường được bác sĩ kê như:

  • Thuốc chống viêm: Corticosteroid, Sulfasalazine,…
  • Thuốc kháng sinh: diệt vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng đường ruột.
  • Thuốc cầm tiêu chảy: Loperamide (tiêu chảy nặng)
  • Thuốc giảm đau: acetaminophen (Tylenol)
  • Bổ sung sắt

Các loại thuốc trên có tác dụng giảm đau, tiêu diệt vi khuẩn, kí sinh trùng

Thuốc Tây chủ yếu được kê để xử lý các triệu chứng chứ không điều trị triệt để nguyên nhân của bệnh. Do đó, người bệnh không nên tùy tiện dùng thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ, không tự ý tăng liều.

Các loại thuốc như coticoid sử dụng lâu dài có thể gây ra các tác dụng phụ như giữ nước, tăng huyết áp, tiểu đường, loãng xương. Với trẻ nhỏ, nếu sử dụng thì sẽ làm giảm miễn dịch. Với các thuốc ức chế miễn dịch sử dụng lâu dài, thì có thể làm giảm sức đề kháng, tăng khả năng mắc các bệnh cơ hội khác như cảm cúm, lao, viêm phổi…

Vì thế để hạn chế tác các dụng phụ ngoài ý muốn và nguy cơ tái phát trở lại, thì bệnh nhân cần sử dụng thuốc theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ, không được phép tự ý đổi thuốc, tăng giảm liều lượng khi chưa có sự cho phép.

Điều trị viêm loét đại tràng bằng phẫu thuật

Có khoảng 25 – 40% trường hợp bệnh nhân bị viêm loét đại tràng phải phẫu thuật.

Phẫu thuật thường dành cho bệnh nhân bị viêm loét nặng sau khi điều trị bằng thuốc không thành công hoặc có biến chứng như xuất huyết ồ ạt, thủng đại tràng, đại tràng phình nhiễm độc, ung thư, nghịch sản xuất hiện ở nhiều vị trí trong niêm mạc đại tràng.

Bệnh sẽ được làm phẫu thuật cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ đại tràng. Đối với những bệnh nhân bị biến chứng không phải ung thư thì sau phẫu thuật cần nội soi hậu môn – trực tràng định kỳ để phát hiện dấu hiệu bất thường, vì nếu niêm mạc đại tràng vẫn được giữ lại, thì nguy cơ hình thành ung thư về sau vẫn còn.

Điều trị viêm loét đại tràng bằng y học cổ truyền các bài thuốc nam

Trong những năm gần đây số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị viêm đại tràng bằng y học cổ truyền ngày càng tăng cao. Ưu điểm của các bài thuốc y học cổ truyền là có thể sử dụng lâu dài, không gây ra nhiều ác dụng phụ nư thuốc tây y, không làm giảm sức đề kháng hay ức chế miễn dịch.

  • Trong y học cổ truyền, viêm đại tràng được điều trị theo căn nguyên của bệnh như là phúc thống, tiết tả, lỵ tật, tràng phong.
  • Mục đích điều trị là nhằm tăng kiện tì vị, điều hòa can tị, thanh thất nhiệt, tiêu độc, ôn bổ mệnh môn, kiêm ôn tỳ vị, bình can lý khí, kiện tỳ tiêu thực, giúp hành khí hóa ứ, ôn thận, chỉ tả.
  • Các bài thuốc đông y nổi tiếng dùng trong điều trị viêm loét đại tràng phải kể đến như Thược dược thang, Hương sa lục quân và các bài thuốc nghiệm phương
  • Các vị thuốc chính yếu trong y học cổ truyền thường hay nhắc đến khi điều trị viêm loét đại tràng là hoàng liên. Ngoài ra, cần phối hợp với các vị thuốc khác như là bạch thược, bạch truật, chỉ xác, phục linh, đẳng xâm, đại hoàng, hương phụ, ý dĩ nhân… để tăng hiệu quả điều trị.

Bài thuốc từ nghệ và mật ong

  • Trộn bột nghệ với một thìa mật ong, ngày ăn một lần. Nếu cảm thấy khó uống, bạn có thể nặn thành từng viên bằng đầu ngón tay, mỗi ngày ăn khoảng 5 viên. Nhớ phải bảo quản trong lọ thủy tinh nhé.

Bài thuốc từ mè đen

  • Xay mè đen ra pha với nước uống hàng ngày.
  • Ưu điểm của các bài thuốc dân gian là không tác dụng phụ, ít tốn kém, người bệnh có thể thực hiện trực tiếp tại nhà. Nhưng nhược điểm là chỉ nên áp dụng ở giai đoạn đầu khi các triệu chứng bệnh chưa nặng, mất nhiều thời gian.

Các mẹo dân gian có thể giúp người bệnh khắc phục các triệu chứng khó chịu của viêm đại tràng tại nhà. Ví dụ như:

  • Uống trà gừng, nhai tỏi tươi để giảm đầy hơi, chướng bụng.
  • Uống bột nghệ với mật ong, ăn lá mơ, uống bột sung khô để chữa đau bụng đi ngoài.
  • Uống nước lá nhót khô sao vàng để chữa tiêu chảy…

Viêm loét đại tràng nên kiêng gì ăn gì?

Xây dựng một chế độ ăn uống khoa học, phù hợp sẽ giúp bạn ngăn ngừa và phục hồi nhanh trong quá trình điều trị bệnh. Chính vì vậy, bạn nên thiết lập cho mình chế độ ăn uống sau:

Thực phẩm người viêm loét đại tràng nên ăn

– Tăng cường bổ sung các loại rau, quả có chứa nhiều vitamin như: rau ngót, rau muống, rau cải… có tác dụng nhuận tràng giúp bệnh nhân giảm được những đau đớn khi đi vệ sinh.

– Một số loại hoa quả người bệnh nên ăn để làm lành các vết thương như: cam, chuối, táo, dứa.

– Các loại hoa quả thuộc họ bí: bí đỏ, bí ngô, bí xanh, bí đao… đều là những lựa chọn tốt cho sức khỏe. Bí có chứa lượng chất xơ rất cao giúp duy trì hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh, đồng thời làm lành các tổn thương do viêm gây ra.

– Người bệnh nên tăng cường những thực phẩm: sữa chua, trứng, mật ong…giúp kháng những loại vi khuẩn có hại đồng thời tăng cường và bảo vệ lớp niêm mạc đại tràng.

– Một số thực phẩm giàu chất đạm: thịt, cá nạc bổ sung dưỡng chất giúp cơ thể khỏe mạnh. Tuy nhiên, người bệnh không nên dung nạp quá 300g/1 ngày và nên chia nhỏ các bữa ăn ra nhiều lần trong ngày.

– Ngoài ra, trong bữa ăn hằng ngày người bệnh nên sử dụng dầu ăn bởi chúng có tác dụng giảm tiết dịch vị nhưng nếu dùng nhiều quá sẽ gây đầy bụng, tiêu chảy.

Người viêm đại tràng nên xây dựng cho mình một thực đơn ăn uống khoa học
Người viêm đại tràng nên xây dựng cho mình một thực đơn ăn uống khoa học

Những thực phẩm mà người viêm loét đại tràng nên kiêng

– Không nên sử dụng những thực phẩm chứa chất kích thích như: trà, cà phê, rượu bia, nước ngọt, đồ uống có gas. Bởi các chất kích thích này sẽ tác động mạnh vào đường ruột, khiến các vết loét khó lành, thậm chí gây loét rộng hơn khiến bệnh càng trở nên trầm trọng.

– Một số đồ ăn chứa nhiều chanh chua, giấm hoặc những món như: dưa muối, hành muối, cà muối, thịt chua, canh chua và các gia vị cay nóng như tỏi, tiêu, ớt, gừng, cũng là những thực phẩm người bệnh nên tránh. Bởi chúng dễ kích thích mạnh lên đường ruột làm các vết loét thêm tổn thương khó lành lặn hơn.

– Hạn chế ăn đường, mật ong, bánh kẹo ngọt, các loại hạt khô cứng, các loại thịt như: pate, thịt nguội, xúc xích, lạp xưởng. Các loại thực phẩm này sẽ gây ra tình trạng khó tiêu, đầy hơi, trướng bụng, ảnh hưởng đến các vết viêm loét và dễ gây tiêu chảy.

– Người bệnh luôn luôn đảm bảo quy tắc ăn chín uống xôi để phòng tránh viêm loét đại tràng và các bệnh về đường tiêu hóa. Khi ăn các đồ tanh, sống, ôi thiu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn có hại phát triển mạnh, làm giảm số lượng lợi khuẩn. Nhiều người sẽ có cảm giác sôi bụng, đi ngoài làm cho tình trạng bệnh càng thêm trầm trọng.

– Một số đồ ăn cứng, nhiều chất xơ khi vào đến đại tràng gây cọ xát khiến niêm mạc dẫn đến niêm mạc bị tổn thương và làm bệnh viêm đại tràng nặng hơn. Do đó, người bệnh nên hạn chế thịt nhiều gân sụn, cơm cháy, bánh đa, rau có nhiều xơ, quả sống…

Làm thế nào để phòng ngừa viêm loét đại tràng?

Bệnh viêm loét đại tràng có tỷ lệ tái phát cao từ 75-85%. Không những vậy, tỷ lệ tử vong tăng nếu bệnh xuất hiện lần đầu ở người già trên 60 tuổi

Viêm loét đại tràng kéo dài, khó điều trị dứt điểm thường khiến bệnh nhân mệt mỏi, chán nản và có tâm lý buông xuôi. Để bệnh thuyên giảm, và hạn chế tối đa khả năng tái phát thì việc thay đổi lối sống và chế độ dinh dưỡng hằng ngày có vai trò cực kỳ quan trọng.

Loại bỏ căng thẳng, stress

Stress không phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra viêm đại tràng, nhưng nó có thể làm cho các triệu chứng của bệnh ngày càng tệ hơn. Khi bị stress, quá trình tiêu hóa bình thường có thể thay đổi, khiến dạ dày tăng tiết axit. Stress cũng có thể tăng tốc hoặc làm chậm hoạt động co bóp của nhu động ruột gây rối loạn chức năng tiêu hóa của đại tràng. Vì vậy chúng ta cần học cách để tránh những căng thẳng, mệt mỏi.

Một số cách tránh stress bao gồm:

Cân bằng giữa làm việc và nghỉ ngơi: không để bản thân bị quá tải trong công việc hay học tập. Cần dành những khoảng thời gian cần thiết cho việc nghỉ ngơi, thư giãn. Ngủ đủ 7- 9 tiếng mỗi ngày để có trạng thái tinh thần tốt nhất. Luôn giữ tinh thần vui tươi, lạc quan.

Tập thể dục hàng ngày: 30 phút cho các bài tập thể dục đơn giản mỗi ngày là phương tự nhiên hữu hiệu nhất giúp bạn tránh khỏi nguy cơ bị stress, căng thẳng. Một số bài tập nhẹ nhàng mà bạn có thể áp dụng như là đi bộ, xe đạp hay yoga hoặc thiền định.

Các biện pháp thư giãn khác: nghe nhạc, đọc sách, massage,…

Bài viết trên đây đã mang đến những thông tin hữu ích cho bạn đọc, giúp mọi người có cái nhìn tổng quan về căn bệnh viêm loét đại tràng. Ngay khi phát hiện ra triệu chứng bệnh, bạn nên đi thăm khám bác sĩ để được chẩn đoán và tìm ra cách điều trị phù hợp. Đồng thời, bạn nhớ kết hợp với chế độ ăn uống khoa học, hạn chế thức khuya để loại bỏ căn bệnh này nhanh chóng..…Chúc bạn sức khỏe!

Bài viết cùng chuyên mục